Toàn Quốc Các biện pháp sinh học giải quyết ô nhiễm môi trường tại Quận Thủ Đức

Thảo luận trong 'Cần mua' bắt đầu bởi nanguyen, 27 Tháng một 2015.

  1. nanguyen

    nanguyen New Member

    Các biện pháp sinh học giải quyết ô nhiễm môi trường tại Quận Thủ Đức


    I. Ô nhiễm môi trường do nuôi trồng thủy sản (NTTS) ven biển

    Thông thường có 2 loại hình ô nhiễm do NTTS ven biển là ô nhiễm môi trường đầm nuôi và bên ngoài đầm nuôi:



    Công trình xử lý nước thải

    Ô nhiễm môi trường đầm nuôi bị hình thành trong quá trình nuôi như các chất thải từ thức ăn và các hoá chất tích tụ ở đáy đầm nuôi tạo thành một lớp bùn ô nhiễm.

    Thành phần lớp bùn chủ yếu là các chất hữu cơ như prôtêin, lipids, axit béo với công thức chung CH3(CH2)nCOOH , photpholipids, Sterol - vitamin D3, các hoocmon, carbohydrate, chất khoáng và vitamin, vỏ tôm lột xác,... Lớp bùn này luôn ở trong tình trạng ngập nước, yếm khí, các vi sinh vật yếm khí phát triển mạnh, phân huỷ các hợp chất trên tạo thành các sản phẩm là hydrosulphua (H2S), Amonia (NH3), khí metan (CH4),... rất có hại cho thuỷ sinh vật, ví dụ nồng độ 1,3 ppm của H2S có thể gây sốc, tê liệt và thậm chí gây chết tôm. Khí amonia (NH3) cũng được sinh ra từ quá trình phân huỷ yếm khí thức ăn tồn dư gây độc trực tiếp cho tôm, làm ảnh hưởng đến độ pH của nước và kìm hãm sự phát triển của thực vật phù du (Hassanai Kongkeo,1990).

    Ô nhiễm môi trường bên ngoài đầm nuôi được sản sinh từ nguồn thức ăn, phân bón, thuốc thú y thủy sản, trong quá trình chăn nuôi thải ra bên ngoài đầm nuôi.

    Các chất ô nhiễm chủ yếu được cty xu ly nuoc thai phát hiện:

    Các bon hữu cơ (gồm thức ăn, phân bón v.v)

    Nitơ được phân huỷ từ các prôtêin

    Phốtpho phân huỷ từ các prôtêin

    Nồng độ các chất ô nhiễm trên được biểu thị bởi một số chỉ tiêu chung như chỉ tiêu nhu cầu ôxy hoá sinh - BOD (Biochemical Oxygen Demand), tổng Nitơ (NT) và tổng Phôtpho (TP).



    [​IMG]




    II. Các phương pháp sinh học trong xử lý ô nhiễm môi trường

    Có rất nhiều phương pháp sinh học đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong xử lý nước thải bệnh viện, đặc biệt là các chất thải hữu cơ. Tiêu biểu là việc sử dụng hệ sinh vật để phân hủy hoặc hấp thụ/hấp phụ các chất ô nhiễm hữu cơ, vô cơ từ chất thải sản xuất và sinh hoạt. Có thể nêu lên một số phương pháp sau:

    Sử dụng hệ vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ trong chất thải

    Sử dụng hệ động thực vật thủy sinh để hấp thụ các chất hữu cơ



    1. Phương pháp sử dụng hệ vi sinh vật

    Có một số loài vi sinh vật có khả năng sử dụng các chất hữu cơ và một số chất khoáng làm nguồn dinh dưỡng và tạo năng lượng, sinh trưởng và nhờ vậy sinh khối của chúng tăng lên. Các vi sinh vật này được sử dụng để phân huỷ các chất ô nhiễm hữu cơ và vô cơ có trong chất thải từ NTTS. Quá trình phân hủy này được gọi là quá trình phân hủy ôxy hóa sinh hóa. Có thể phân phương pháp này thành hai loại (Trần Văn Nhân và Ngô Thị Nga, 1999) là :

    Phương pháp hiếu khí: là phương pháp sử dụng các nhóm vi sinh vật hiếu khí. Ðể đảm bảo hoạt động sống của chúng cần cung cấp oxy liên tục cho chúng và duy trì ở nhiệt độ khoảng 20 - 40 độ C

    Phương pháp yếm khí: là phương pháp sử dụng các vi sinh vật yếm khí. Trong xử lý nước thải công nghiệp, phương pháp xử lý yếm khí được sử dụng rộng rãi.



    2. Phương pháp sử dụng hệ động thực vật để hấp thụ các chất ô nhiễm

    Bản chất của việc sử dụng hệ động, thực vật để loại bỏ các chất ô nhiễm dựa trên cơ sở quá trình chuyển hóa vật chất trong hệ sinh thái thông qua chuỗi thức ăn.

    Thông thường người ta sử dụng thực vật làm các sinh vật hấp thụ các chất dinh dưỡng là nitơ và phốt pho, cácbon để tổng hợp các chất hữu cơ làm tăng sinh khối (sinh vật tự dưỡng), đó là tảo hay thực vật phù du, rong câu và các loài thực vật ngập mặn khác.



    Kế tiếp trong chuỗi thức ăn là các động vật bậc 1 - động vật ăn thực vật. Ðiển hình của các động vật bậc 1 ở vùng nước ven biển là các loại ngao, vẹm, hàu các loài này có thể tiêu thụ các thực vật phù du và cải thiện điều kiện trầm tích đáy. Các loài cá ăn thực vật phù du và mùn bã hữu cơ như cá măng, cá đối cũng được thử nghiệm sử dụng ở các kênh thoát nước thải (Micheal J. Phillips, 1995).

    Rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái ở vùng đất ngập nước rất phổ biến ở ven biển Việt nam. Có thể sử dụng RNM như một bể lọc sinh học các chất ô nhiễm hữu cơ từ chất thải đô thị, công nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Theo tính toán lý thuyết, ở điều kiện Việt Nam, 1ha RNM mỗi năm tăng trưởng 56 tấn sinh khối và có thể hấp thụ được 219 kg nitơ, 20 kg phôt pho (Jesper Clausen, 2002).

    Ngoài ra, RNM với bộ rễ có cấu tạo đặc biệt là nơi bẫy các trầm tích có chứa các kim loại nặng, các hóa chất bảo vệ thực vật. Thực vật ngập mặn cùng với toàn bộ hệ sinh thái trong RNM là một bể lọc sinh học đối với các chất thải từ hoạt đông nuôi trồng thủy sản ven biển.

    Trong thực tế, để đảm bảo đạt hiệu suất xử lý cao các chất ô nhiễm với chi phí vận hành tối thiểu, người ta thường sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, kết hợp nhiều hệ thống và các tác nhân khác nhau. Tùy theo hàm lượng chất ô nhiễm trong nước thải và điều kiện cụ thể của từng khu vực.



    Mọi chi tiết vui lòng liên hệ: 08 3559 1848 (6 line) hoặc 091 994 0018

    Website: congtymoitruong.com.vn
     
  2. Công ty TNHH Sản Xuất và Thương Mại Khang Thịnh – là đại lý nhập khẩu, phân phối các dòng xe thương mại nguyên chiếc từ Trung Quốc như xe tải, xe chuyên dùng của Iveco, Howo – Sinotruk, Dongfeng , Camc, Chiến thắng….và các loại xe khách : Samco, Transinco, Ngô Gia Tự, 1-5…

    Hãy liên hệ ngay với chúng tôi, KHANG THỊNH CHUYÊN BÁN CÁC LOẠI ĐẦU KÉO, XE CHUYÊN DÙNG, XE TẢI, XE BEN, …. CỦA CÁC HÃNG NHƯ XE HOWO, SINOTRUK, CNHTC, CAMC, XE DONGFENG,....
    Hotline : 0989 869 869 (Mr.Đức) - 090 296 5555 (Mr.Thắng)
    Website :
    Khangthinh.com.vn
    Địa chỉ : Lô (1+2) GD2 KCN Ngọc Hồi, Km 14 đường Ngọc Hồi, Thanh Trì, Hà Nội. ĐT: 04-36811428
     

Chia sẻ trang này

Users Viewing Thread (Users: 0, Guests: 0)