1. Ban quản trị diễn diễn ra mục tiêu vì một diễn đàn sạch để hướng tới một mội trường internet sạch, chúng tôi nghiêm cấm tất cả mọi hành vi SPAM trên diễn đàn: post bài không đúng chuyên mục, comment bừa bãi và đăng tải nội dung vi phạm pháp luật. Chúng tôi sẽ không thông báo mà xóa tất cả các bài viết liên quan đồng thời Ban nick vĩnh viễn.
    Dismiss Notice

Pháp luật quy định gì về tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Thảo luận trong 'Kiến thức chung' bắt đầu bởi haibang510, 24 Tháng tám 2015.

  1. haibang510

    haibang510 New Member

    Văn bản quy phạm pháp luật về chế định tài sản của vợ chồng có hiệu lực, theo đó tài sản chung của vợ chồng phải được đăng ký .

    - Nếu vợ / chồng tự mình nhận chuyển nhượng nhà, đất tức là giao dịch xác lập tài sản riêng,

    - Nếu vợ / chồng chuyển nhượng cho người khác theo Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi tên một người thì không cần sự đồng ý của vợ / chồng.

    Đề nghị quý anh chị cho ý kiến về việc giải thích như trên có đúng không?

    [​IMG]
    Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có rất nhiều điểm mới so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 theo đó có các quy định mới về chế độ tài sản của vợ chồng. Điều 34 Luật này quy định về việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với khối tài sản chung của vợ chồng. Theo đó, với trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định thì phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ và chồng, trừ trường hợp vợ chồng có những thỏa thuận khác. Do đó, chỉ những tài sản chung được quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 phải đăng ký, bao gồm quyền sử dụng đất, những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu. Còn các loại tài sản khác do vợ, chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân thì pháp luật không quy định bắt buộc phải đăng ký được hiểu là tài sản chung của vợ chồng. Nếu có tranh chấp về tài sản đó mà không có chứng cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi người thì tài sản đó được xem là tài sản chung. Chính Vì vậy, không thể hiểu là mọi tài sản chung của vợ chồng đều phải đăng ký và tài sản riêng là đương nhiên.

    Với trường hợp hai vợ chồng có thỏa thuận về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng hoặc vợ, chồng chứng minh được khối tài sản đó là tài sản riêng của mình thì khi tham gia những giao dịch liên quan đến khối tài sản đó, vợ/ chồng có thể tự mình thực hiện giao dịch mà không cần sự đồng ý của người kia. Với trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng chỉ ghi tên vợ / chồng mà không chứng minh được đây là tài sản riêng thì việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung thì phải tuân thủ theo quy định về việc đại diện giữa vợ và chồng. Do đó, vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện hay chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và những luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Chính vì vậy, cũng không thể hiểu là trong mọi trường hợp nếu vợ hoặc chồng chuyển nhượng cho người khác theo Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi tên một người thì không cần sự đồng ý của vợ hoặc chồng. Ngay cả trong trường hợp tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của vợ chồng như quy định tại Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì với trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ / chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng.

     

Chia sẻ trang này

Users Viewing Thread (Users: 0, Guests: 0)

XenForo Add-ons by Brivium ™ © 2012-2013 Brivium LLC.